Thứ Ba, 28 tháng 7, 2015

Chiến lược thuê ngoài và tìm nguồn lực bên trong

           Thuê ngoài
        Đối với các hoạt động trong chuỗi giá trị doanh nghiệp đều phải đặt câu hỏi nên tự làm hay mua (thuê ngoài). Việc thuê ngoài thực hiện các hoạt động nội bộ cho doanh nghiệp có nhiều ưu điểm:
– Chi phí thuê ngoài thấp hơn và chất lượng dịch vụ cao hơn
so với tự làm do các nhà cung cấp có kinh nghiệm, chuyên môn hóa và hiệu quả kinh tế theo quy mô. 
– Thuê ngoài sẽ giảm được sức ép về vốn, đồng thời giảm chi phí cố định.
        Nhân viên của nhà cung cấp bên ngoài có chất lượng cao hơn.
– Thuê ngoài sẽ tạo điều kiện cho doanh nghiệp tiếp cận với công nghệ và kiến thức cao hơn.
– Làm giảm được tính độc quyền của các phòng ban nội bộ
Tất nhiên, thuê ngoài có thể dẫn đến sự phụ thuộc vào nhà cung
cấp bên ngoài. Doanh nghiệp cần có những phân tích cụ thể để lựa chọn phương thức thuê ngoài cho những hoạt động cụ thể. Doanh nghiệp khôn ngoan thường tập trung nguồn lực bên trong vào những hoạt động chính, quan trọng và tìm nguồn bên ngoài cho các hoạt động Wiac. Nhiều hoạt động marketing như phát triển chiến dịch quảng cáo, bán hàng, dịch vụ khách hàng, nghiên cứu thị trường… thích hợp với việc tìm nguồn cung cấp bên ngoài. Một ví dụ điển hình là thuê công ty chuyên nghiệp xây dựng thương hiệu.

Chiến lược thuê ngoài

         Tìm nguồn lực bên trong
        Ngược với thuê ngoài, ở đây doanh nghiệp đã tự thực hiện một hoặc một số hoạt động mà trước đây họ phải mua ngoài. Ví dụ, nhiều tập đoàn lập ra công ty tài chính thực hiện các hoạt động tài chính cua họ thay vì sử dụng dịch vụ của ngân hàng. Hay một công ty phát triển hệ thống phân phối do họ làm chù sở hữu thay cho việc phụ thuộc vào các đại lý phân phối. Những hoạt động cẩn chuyển từ thuê ngoài sang tự làm thường là những hoạt động cốt lõi. Tất nhiên, những hoạt động này không cố định, chúng biến đổi theo thời gian khi môi trường marketing thay đổi, các chiến lược mới cần phát triển để thỏa mãn nhu cầu của khách hàng hiệu quả hơn các đối thủ cạnh tranh. Các hướng hội nhập chiều dọc đều là phát triển các nguồn bên trong. Nhược điểm của chiến lược này là cần vốn đầu tư nhiều hơn và chi phí cao.



Chuỗi giá trị và những chiến lược

         Giành lấy giá trị từ khách hàng
Bằng cách doanh nghiệp ấn định mức giá bán sản phẩm tương xúng với giá trị cung cấp cho khách hàng. Vấn đề ở đây là doanh nghiệp phải hiểu đúng đánh giá của khách hàng về giá trị sản phẩm của họ. Nếu doanh nghiệp tăng được giá trị cung ứng cho khách hàng, họ có thể tăng giá bán.
          Cắt giảm chi phí
Doanh nghiệp cần phân tích toàn bộ những hoạt động trong quá trình gia tăng giá trị cho khách hàng để cắt giảm chi phí. Vấn đề quan trọng ở đây là cắt giảm chi phí ở những hoạt động nào mà không làm giảm mà còn làm tăng được giá trị cung cấp cho khách hàng. Một số hướng chính để giảm chi phí:
– Xem xét lại sự cần thiết của các chi phí này. Ví dụ các chi phí giao dịch hành chính liên quan đến khách hàng hiện tại và tiềm năng.

Chuỗi giá trị

– Giảm chi phí nhân lực.
– Giảm chi phí nguyên vật liệu.
– Giảm chi phí vốn và sử dụng hiệu quả nguồn vốn.
– Xem xét lại các khu vực thị trường về địa lý.
– Chuyển một số công việc và chi phí cho khách hàng: Nghiên
cứu tổ chức lại chuỗi giá trị của doanh nghiệp sao cho khách
hàng cố thể đảm nhận một số khâu hiện đang do doanh
nghiệp thực hiện.
            Tái thiết kế
Doanh nghiệp cần xem xét lại quy trình và phương pháp hiện tại của doanh nghiệp để phát hiện những sự không phù hợp cần phải đổi mới. Trong nhiều trường hợp, chính sự thay đổi về kiến
thức và nhu cầu của khách hàng, yêu cầu của doanh nghiệp, công nghệ mới… có thể cho phép phát triển những quy trình và phương pháp mới hiệu quả hơn. Ví dụ doanh nghiệp có thể cải tiến quy trình bán hàng để giảm thời gian và chi phí giải quyết một đơn đật hàng. Một quy trình bán hàng gọn nhẹ, nhanh chóng không những giảm chi phí cho doanh nghiệp mà còn gia tăng được giá trị cho khách hàng.


Đọc thêm tại:

Chiến lược của người theo sau

       Những doanh nghiệp có quy mô và khả năng nguồn lực trung bình thường không muốn chấp nhân rủi ro cho việc đầu tư đổi mới sản phẩm hoặc đi tiên phong trên thị trường.          Các doanh nghiệp này thường sử dụng chiến lược đi theo người dẫn đầu bằng cách bắt chước, sao chép hay cải tiến sản phẩm cũng như các biện pháp marketing khác. Những người theo sau có thể thu nhiều lợi nhuận hơn do không phải đầu tư chi phí cho nghiên cứu đổi mới ban đầu. Trên cơ sở phân tích khả năng nguồn lực hiện có và phản ứng của người dẫn đầu, một số doanh nghiệp tự hài lòng với vị trí thứ 2, thứ j 3 và tìm cách củng cố hon là phát triển vị trí đó. Bởi vì họ nhận thức rằng nếu tấn công người dẫn đầu có thể gây nên những phản ứng đối phó của họ và làm cho họ thiệt hại. Ví dụ, giảm giá có thể gây nên phản ứng giảm giá nhiều hơn của người dẫn đầu dẫn đến chính doanh nghiệp thách thức bị thiệt hại.
         Chiến lược theo sau thường được áp dụng trong các ngành công nghiệp có sản phẩm đồng nhất và đầu tư vốn lớn như sắt thép, phân bón,… tức là khả năng khác biệt hóa rất thấp về sản phẩm, hình ảnh, dịch vụ và khách hàng có sự nhạy cảm về giá rất cao. Đây là những ngành không cho phép các nhà sản xuất giành giật thị phần của nhau, họ thường nhìn nhau để hành động để không gầy nên những phản ứng cạnh tranh gây thiệt hại cho toàn ngành.

Chiến lược của người theo sau

         Đối với các doanh nghiệp theo sau, định hướng chiến lược quan trọng là phải tìm cách tăng sự trung thành của khách hàng hiện tại và giành được một phần khách hàng mới bằng chính sách khác biệt hóa so với người dẫn đầu (thay thế, dịch vụ bổ sung, quan hệ con người). Doanh nghiệp theo sau cố gắng tạo ra những ưu thế riêng cho sản phẩm của họ đối với thị trường mục tiêu bằng: địa điểm bán, dich vụ, khuyến mại. Họ phải đảm bảo có giá thành sản phẩm thấp, chất lượng sản phẩm và dịch vụ cao. Khi các đoạn thị trường mới xuất hiện, họ cũng cần phải tìm cách chiếm. Dưới đây là 3 chiến lược chính của người theo sau;
– Người sao chép: họ bắt chước các biện pháp marekting của 1 người dẫn đầu như sản phẩm, bao gói, cách phân phối, cách quảng cáo… Ví dụ, các nhà sản xuất bánh đậu xanh Hải Dương đã bắt chước nhau về sản phẩm, cách bao gói, mức giá bán, điểm bán. Một dạng chiến lược đặc biệt của người sao chép là chiến lược bắt chước hay giả mạo, tức là tạo ra sự lẫn lộn giữa sản phẩm thực sự và sản phẩm sao chép.
– Người nhái kiểu: cũng bắt chước hoạt động marketing của người dẫn đầu nhưng cố tạo nên những điểm khác biệt với cách bao gói, quảng cáo, định giá…
– Người cải tiến: họ cũng dựa trên hoạt động của người dẫn đầu để đi theo nhưng đã chủ động cải tiến đi. Các hình thức chủ yếu là cải tiến sản phẩm, cải tiến phân phối.



Chiến lược của doanh nghiệp chuyên môn hóa hay “nép góc”

          Một số doanh nghiệp với quy mô nhỏ, nguồn lực hạn chế không có khả năng cạnh tranh trên các đoạn thị trường lớn mà ở đó đã có các đối thủ cạnh tranh lớn hoạt động.           Vì vậy, họ chi quan tâm đến các đoạn thì trường nhỏ và cố gắng chiếm khoảng trống thị trường mà ở đó họ hy vọng chuyên môn hóa hoạt động. Một đoạn thị trường quy mô nhỏ (thị trường ngách) chỉ có thể được xem là hiệu quả và lâu bền nếu có đủ 5 đặc điểm sau:
– Có quy mô và sức mua đủ để có khả năng thu lợi nhuận;
– Có tiềm năng tăng trưởng rõ rệt;
– Đối thủ cạnh tranh lớn bỏ qua hoặc không quan tâm;
– Phù hợp với nguồn lực và năng lực của doanh nghiệp;
– Có khả năng bảo vệ được thị trường khi bị tấn công do tạo được uy tín đối với khách hàng;
         Tư tưởng chính của chiến lược nép góc là chuyên môn hóa tập trung vào phục vụ những nhom khách hàng nhỏ, chuyên biệt. Do chuyên môn hóa nên doanh nghiệp có thể độc quyền khai thác đoạn thị trường của họ và vì vậy có thể đạt tỷ suất lợi nhuận cao. Nhiệm vụ chính của doanh nghiệp nép góc là tạo được những đoạn thị trường riêng, mở rộng được đoạn thị trường đã đạt được và bảo vệ được nó trước các đối thủ cạnh tranh. Chiến lược nép góc thích hợp với các điều kiện thị trường sau:

Chiến lược của doanh nghiệp

– Thị trường ổn định hoặc tăng trưởng yếu. Sản phẩm ít thay đổi và dịch vụ tương đối quen thuộc.
– Doanh nghiệp chỉ chuyên môn hóa vào một số ít hoạt động;
– Doanh nghiệp tạo được sự nổi tiếng về quan hệ chất lượng/ giá cả;
– Chi phí thấp nhờ chủng loại hẹp, ít chi tiêu cho nghiên cứu I và phát triển, cho việc tung sản phẩm và hỗ trợ thương mại.
         Người nép góc có thể theo đuổi một số định hướng chiến lược sau:
– Chuyên môn hóa theo người sử dụng cuối cùng;
– Chuyên môn hóa vào một khâu trong chuỗi giá trị;
– Chuyên môn hóa theo nhóm khách hàng với quy mô khác nhau;
– Chuyên môn hóa theo khách hàng đặc biệt;
– Chuyên môn hóa theo khu vực thị trường địa lý;
– Chuyên môn hóa theo sản phẩm hoặc chủng loại sản phẩm;
– Chuyên môn hóa theo công việc
– Chuyên môn hóa theo dịch vụ;
– Chuyên môn hóa theo kênh phân phối
       Chiến lược nép góc thị trường thường có rủi ro khi đoạn thị trường của họ bị các doanh nghiệp lớn nhòm ngó và tấn công chiếm lĩnh để phát triển thành thị trường lớn hoặc khi đoạn thị trường có sự biến đổi về hành vi tiêu dùng. Bởi vậy, các doanh nghiệp nép góc cũng nên đồng thời khai thác nhiều đoạn thị trường nhỏ thay vì chỉ một đoạn duy nhất.
      Ngoài các kiểu chiến lược kể trên, doanh nghiệp có thể xác lập chiến lược marketing theo một số cách tiếp cận khác.



Các hướng chiến lược tấn công cạnh tranh

        Tấn công sườn. Doanh nghiệp thách thức phát hiện điểm yếu trong chiến lược marketing của đối thủ cạnh tranh và phát triển chiến lược tập trung sức mạnh khai thác điểm yếu đó. Đây là chiến lược phù hợp với những doanh nghiệp có nguồn lực hạn chế hơn dối thủ cạnh tranh. Chiến lược tấn công cạnh tranh có thể theo hai hướng:
+ Lôi kéo khách hàng ở những khu vực thị trường nhất định hoặc những đoạn thị trường nhất định.
+ Tìm ra những nhu cầu thị trường chưa được phát hiện hoặc các đối thủ cạnh tranh chưa khai thác. Doanh nghiệp tấn công có thể tìm kiếm những đoạn thị trường còn trống để. lập kế hoạch khai thác và phát triển những đoạn thị trường này thành những đoạn thị trường mạnh.
– Tấn công tổng lực. Doanh nghiệp tấn công sử dụng đồng thời nhiều công cụ marketing để lôi kéo khách hàng của đối thủ cạnh tranh trên nhiều khu vực thị trường.
– Tấn công vu hồi. Doanh nghiệp tấn công nhằm vào “sân sau của đối phương, những thị trường dễ dàng hơn. Các hướng cơ bản là: đa dạng hóa sang những sản phẩm không liên quan; đa dạng hóa ‘sang những khu vực thị trường mới; đầu tư vào những công nghệ mới. Ví dụ, một doanh nghiệp đầu tư cho nghiên cứu phát triển một công nghệ mới rồi tung ra thị trường để giành thị trường của những sản phẩm hiện có.

chiến lược tấn công cạnh tranh

– Tấn công du kích. Doanh nghiệp thách thức sử dụng một cách khôn khéo các công cụ marketing để lôi kéo dần khách hàng ở những khu vực địa lý khác nhau nhằm tăng dần thị phần.
       Ví dụ, giảm giá chọn lọc hay tăng cường khuyến mại ở một khu vực thị trường hẹp sau khi thành cổng lại nghiên cứu sử dụng các công cụ marketing khác ở những khu vực thị trường và những thời điểm khác.
       Chiến lược tấn công của người thách thức thường sử dụng các công cụ marekting sau:
– Chiến lược cắt giảm giá: bán sản phẩm tương tự với giá thấp hơn. Chiến lược này cần 3 điều kiện: Người mua phải đánh giá sản phẩm của người thách thức có chất lượng tương đương; người mua nhạy cảm về giá; người dẫn đầu thị trường không có phản ứng cắt giảm giá theo ngay lập tức.
– Chiến lược sản phẩm chất lượng thấp hơn: cung cấp loại sản phẩm đơn giản hơn, chất lượng thấp hơn, bán với giá rẻ hơn. Chiến tược này có hiệu quả khi đoạn thị trường quy mô lớn và nhạy cảm về giá.
– Chiến lược sản phẩm chất lượng cao, uy tín: đưa ra thị trường những sản phẩm có chất lượng cao, bán với giá cao.
– Chiến lược đa dạng hóa hay phát triển chủng loại sản phẩm: đưa ra thị trường nhiều chủng loại sản phẩm mới cho người mua lựa chọn. Chiến lược này thường phù hợp với các doanh nghiệp lớn.
– Chiến lược đổi mói sản phẩm: đổi mới công nghệ hoặc phương thức thương mại.
– Chiến lược cải tiến dịch vụ: cung cấp nhiều dịch vụ mói hay tốt hơn cho khách hàng.
– Chiến lược giảm chi phí sản xuất: nhờ mua sắm nguyên vật liệu hiệu quả hơn, hay đổi mới công nghệ từ đó tạo khả năng giảm giá để thu hút khách hàng.
– Chiến lược đầu tư cho quảng cáo và khuyến mãi: bằng cách tăng chi phí và tìm kiếm những phương thức thực hiện hiệu quả cho các hoạt động này.
– Chiến lược cải tiến kênh phân phối: Tun kiếm, phát triển kênh phân phối mới hay các phương thức tiêu thụ mói để tăng khả năng thâm nhập thị trường, tăng thị phần.



 
;